Sáng.
Tin dì mây về loang đi khắp xóm Trại. Dì Mây ngượng ngùng tiếp khách. Người đưa đấy, an ủi, kẻ cảm thông, xót xa. Nửa buổi, vẫn khách, dì Mây lại khoác ba lô ra lều cỏ. Dì ngồi trên bờ đê cao ngẩn ngơ nhìn hoa gạo đỏ rắc dây bến sông Châu. Mai se sẽ ngồi bên: "Dì ơi! Dì về được nhà là mừng lắm. Người còn là quý nhất, dì ơi". Dì Mây mơ màng như không nghe Mai nói. Dì khe khẽ, thì thầm: "Ngày xưa, dì và chú San thường ngồi ở bến sông này.." Lặng đi một lát, lại nói tiếp trong hơi thở: "Dì chèo đò đưa chú đi học cũng vào mùa hoa gạo..". Dì thở dài, nuối tiếc. Đôi mắt nhìn xa xăm.
Bố ra bến sông Châu. Làm mặt giận, bố bảo: "Dì làm thế, dân làng chửi mặt tôi". Rồi bố nói luôn: "Thôi cũng tiện, ngày thường ông có chịu về nhà đâu. Dì ở đây gần ông. Tôi bảo chị phụ thêm cất căn nhà mới". Ông lặng thinh, ném săm cái chèo lên đò. Ông gỡ neo không thèm ngoái lại, chèo phãng sang bờ bên kia đón khách. Dì Mây bảo: "Anh về đi, đừng nói năng gì nữa". Bố đi mấy bước còn quay lại dặn: "Mày ở với dì đừng có ngụp lặn, mò móc, dưới sông còn sót bom bi". Bố lo xa quá. Người ta suốt ngày quăng chài bắt cá, bắt tôm. Hôm qua, thím Ba đun te bắt rạm, xúc phải cả mảnh bom. Có thấy ai chết đâu.
Chiều chiều.
Mẹ hái lá bưởi mang ra bến sông Châu. Mẹ và dì gội đầu cho nhau. Tóc đi Mây rụng nhiều, xơ và thưa. Ngày chưa đi bộ đội, dì thường sai Mai lấy ghế đầu cho dì đứng lên chải tóc. Tóc dì đen óng mượt. Những lúc gội đầu xong, dì nắm sát chân tóc quay mù mịt. Bao nhiêu hạt nước li ti bắn ra rơi cả vào mặt Mai. Chú San nấp bên hàng dâm bụt vạch lá nhìn trộm cũng giật mình. Mùa hoa loa kèn, dì Mây rủ Mai ra triền sông chơi. Hai dì cháu đuổi nhau. Chạy ngược chiều gió thổi, tóc dì số tung bay bồng bềnh, bồng bềnh như mây. Mai thầm ước khi thành thiếu nữ có mái tóc mây dài đẹp như dì. Mẹ và dì Mây nặng tình quá. Hai chị em rủ rỉ rù rì chuyện trò. Mai chẳng rõ, chỉ thấy chốc chốc mẹ thở dài. Lúc về, mẹ dặn: "Mai. Chịu khó học hành rồi đỡ đần ông cho dì vui. Đừng có nhẩy cấng đi chơi bỏ dì ngồi một mình". Mẹ lại bảo: "Dì ra đây là phải. Ở nhà nhìn sang bên kia hàng dâm bụt thấy người ta như đôi chim cu, đến tôi cũng nâu ruột". Mai lờ mờ hiểu được câu: "Chị em gái như trái cau non".
Từ ngày ra bến sông Châu, dì Mây buồn lắm, cứ tha thẩn đi ra đi vào, lúc tư lự ngồi ngắm trời nhìn nước, lúc lụi cụi nấu cơm. Vâng Mai, chỉ còn ông và dì, hai bố con chòi chọi, ăn được bữa cơm đến khốn khổ. Ông thương dì, cố nhai, cố nuốt, mật ngân ngắn nước. Dì cũng não lòng, có hôm bỏ bữa. Ban ngày đi lại còn khuây khỏa. Ban đêm nghe tiếng trẻ sơ sinh khóc bên trạm xá xã vọng sang, dì Mây lại giật mình thon thót.
Dì Mây thỉnh thoảng cũng phụ với ông chèo đò. Dì bỏ chân giả, chống nạng gô khó nhọc leo lên sạp thuyền ngồi, hai tay cầm chèo quây nước. Lũ bạn Mai đi học cấp ba trường huyện chẳng bao giờ dì lấy tiền đò. Đi nhờ mãi cũng ngại, bọn nó bảo: "Chúng cháu sức dài vai rộng, dì giúp mãi, ngại quá!". Di Mây cười: "Đáng là bao, cho chúng mày nợ đến nữa có lương rồi trả". Bọn nó nhao nhao: "Ứ trả đâu. Chúng cháu dồn lại, dì lấy chồng đi mừng luôn thể". Dì Mây chợt thoáng buồn. Chúng nó kín đáo nhìn nhau nói làng sang chuyện khác. Thương dì, mỗi lần qua chúng nó bỏ vào lều có khi thì hoa quả, lúc lại bánh trái. Có đứa còn ngắt cành hoa loa kèn to cầm ở đầu chông tre dì năm nữa. Lũ bạn Mai như một đàn chim sẻ chợt ùa đến, thoát bay đi, làm cho bến sông Châu lúc ồn ào náo động, lúc lại im ắng, buồn tẻ.
Về một thời gian, tóc dì Mây mọc thêm, da dẻ hồng hào trở lại. Đêm trăng sáng. Dì Mây lọn tóc cao trên gáy rủ Mai xuống bến sông tắm. Nước sông Châu chảy êm đềm mát rượi. Vai dì Mây để trần. Trăng sáng lấp lóa trên ngực dì căng đây. Có dì Mây trắng ngần, mắt dì sáng lên, lung linh, huyền hoặc. Thảo nào mẹ thường nói: "Ngày xưa dì đẹp nhất làng". Mẹ cũng bảo: "Có khối trai làng ra bến sông ngó trộm dì mày tảm". Mai chột dạ ngước lên, chỉ thấy triền đê cao ngút. Bở bên kia lấp lóa ánh lửa hàn. Họ đang sắp bắc cầu. Mai bơi lại gần: "Dì ơi! Dì còn trẻ lắm". "Nỡm ạ. Dì sắp thành bà cô rồi đấy. Còn mày nữa. Tao cứ ngày một già đi, mày lại cứ phổng phao ra". Mai cúi nhìn xuống ngực, tự nhiên bừng đỏ mặt. Dì Mây quây mình, một chân còn lại quây nước, hai tay sải mạnh, người lấp lóa trên sông đầy ánh bạc. Sóng nước lao xao.
Làng xây trạm xá mới. Bà y sĩ trưởng trạm không sống nổi với nghề bỏ việc. Thiếu người, bàn ghế, giường tủ để trơ tròng. Biết dì là quân y sĩ Trường Sơn, ông Chủ tịch xã nói khó với dì ra giúp. Dì Mây trở lại nghề. Khổ nhất là những đêm trời mưa người ta gọi dì Mây đến khám tại nhà. Đường quê khấp khểnh sống trâu, dì bước đầy bước hụt. Con đường từ bến sông đến trạm xá có vài trăm mét, dì cậm cạch bước, lưng thấm đẫm mồ hôi. Ông Chủ tịch xã bảo: "Tập xe đạp đi, tôi cho người sửa đường rải đá mạt". Dì Mây bảo: "Trạm xá còn thiếu thuốc. Tôi cố, cũng như người tập thể dục". Mấy tháng rồi, lúc trời mưa con đường đầy dấu chân tròn in vào đất phù sa.
Đêm mưa.
Vợ chú San vượt cạn thiếu tháng. Thai ngôi ngược lại trăng hoa quấn cổ. Thim Ba loay hoay đỡ mãi, cô Thanh không đẻ được. Cô cứ luôn mồm kêu: "Chị Ba ơi.. Em chết mất.. Em đau quá!..". Cô đuối dần không còn sức rặn, một hai phần sống tám chín phần chết. Đường lên huyện xa lắc. Đò ngang cách trở. Mưa gió dầm dề. Người ướt lướt thướt, chú San mặt cắt không còn một hạt máu. Dì Mây khoác áo mưa đến. Chú San đang dở khóc dở mếu. Thím Ba lại vướng thẳng Cún. Nó khóc ngằn ngặt không dời thím nửa bước. Thím bực mình đét vào đít nó một cái: "Con với cái. Rõ khổ". Thím Ba kéo dì Mây ra ngoài hiên, rỉ tai: "Đưa lên huyện không kịp mà động dao kéo vào cũng không cứu nổi. Nhà nó, chồng lêu bêu chưa xin được việc. Ba cái đồng bạc đi nước ngoài về ăn hết rồi tiền đâu thuốc men. Vạ lây. Mày khốn". Như thể không nghe thím Ba nói, dì Mây tiêm thuốc tê, thuốc trợ sức, rạch rộng rồi bảo cô Thanh cố rặn. Cô Thanh nhìn di Mây bằng con mắt sợ hãi, câu cứu. Dì nhỏ nhẹ: "Em cố lên. Hãy nghĩ đến đứa con. Nào.. Cố lên em.. Có lên..". Cô Thanh mím môi, oản mình dòn sức. Khiếp quá! Mai chạy ra ngoài đứng. Lúc sau, nghe loáng thoáng tiếng di Mây bảo thím Ba băng lại rốn cho đứa bé. Di Mây khâu xong vừa lúc trời rạng, mưa ngớt từ lúc nào. Mồ hôi dì vã ra như tắm. Dì Mây thở phào. Thím Ba bảo: "Mặt nó tím ngắt mà không khóc". Dì Mây ghé miệng vào mũi nó mút mút rồi phát nhẹ vào đít nó một cái. Tiếng oe oe bật ra. Chú San ở ngoài nhấy câng lên: "Sống rồi! Con ơi..". Ở trong, dì Mây gục luôn xuống bàn đỡ đẻ khóc tức tưởi. "Ở cái con này!". Thím Ba ngạc nhiên. Dì Mây càng khóc to hơn. Tiếng khóc của dì hòa lẫn tiếng oe oe của đứa bé. Nghe xót xa, tủi hờn, xen lẫn niềm ao ước, chờ mong và vui buồn lẫn lộn.
Chú San vào, bối rối. Thím Ba bảo: "Tôi hiểu ra rồi. Cứ để con Mây nó khóc. Xúm vào đưa vợ về phòng sau đẻ". Chú San lóng ngóng vịn vào xe đấy. Khi chú San quay lại. Dì Mây không còn ở đó nữa. Dưới nền trời bằng bạc là muôn triệu hạt mưa bụi li ti, giăng giăng bay trắng dòng sông Châu. Bống dì Mây thấp thoáng trong bụi mưa, bước thấp, bước cao, ở phía cuối con đường về bến.
Mấy ngày sau, chú San đặt tên con bé cũng là Mây. Thím Ba lắc đầu lè lưỡi: "Khiếp quá! Gần hai mươi năm tao làm bà đỡ, chưa thấy ca nào khó thể". Thím bảo dì Mây: "Mày tài thật! Đưa lên huyện là họ mỗ toác cái bụng ra ấy chứ". Di Mây thơm thơm cái miệng nhỏ xinh xinh của con bé đang chóp chép. Cô Thanh sướt mướt: "Nhà em ơn chị đời đời". Dì Mây cho con bé ít tiền. Cô Thanh chối đây đấy. "Tôi cho nó chứ có cho cô đâu". Dì Mây bảo thế. Chú San đứng im, chả biết chú nghĩ gì.
Bố biết, mắng: "Có khi làm phúc phải tội. Dì dại. Lỡ không may người ta nghĩ trả thù. Không đổ máu cũng vào tù như bồn". Dường như uất ức từ lâu, chỉ chờ có thế, thím Ba xả ra hết: "Hay hớn quá! Đạo đức giả tuốt. Giờ tôi chẳng giấu giếm nữa. Anh giả vờ bệnh tật ở nhà hưởng phú quý thái bình, đẩy em trai đi lính thế thân..". "Tôi xin thím. Chú ấy là chồng thím nhưng là em tôi. Chú ấy chết. Tôi lo liệu." "Lo cái chó gì. Họp chi bộ anh vẫn giơ tay biểu quyết kỷ luật tôi. Con trai anh đấy. Thằng Cún đấy. Anh mang về mà nuôi.". Nói vậy, nhưng thím lại kéo thâng Cún vào lòng như sợ người ta bắt mất. Thím nức nở: "Con ơi! Mẹ khổ lắm". Bố hoảng: "Thím này điên rồi. Dì Mây nói hộ tôi". Rồi bố phóng xe môbilét vù đi. Dì Mây vỗ về: "Đời người đàn bà khổ lắm. Chị ơi nghiến răng mà chịu. Đẹp tốt phô ra, xấu xa che lại". Thím Ba vẫn khóc ời ởi: "Mà cũng tại tôi. Tôi tệ quá, tệ quá!".
Ngày ấy, trai tráng trong làng đi bộ đội hết, đến như dì Mây cũng ra chiến trường. Làng toàn nạ dòng, người già với trẻ con. Chẳng biết thím Ba đáng thương hay đáng tội. Thím Ba ngớt khóc, nhìn thấy Mai, thím đuổi: "Mày đi ngay. Chuyện người lớn biết đâu bỏ đấy nhá.". Mai chạy về nhà như ma đuổi, không khóc nhưng nước mắt cứ trào ra. Thương mẹ, thương ba đứa em gái, thương thẳng Cún, thím Ba, dì Mây. Mai giận bố. Lại có chuyện động trời như thế. Mà bố dám làm mọi điều lắm. Mai nhớ sau mấy hôm dì Mây về, ông mang bằng Tổ quốc ghi công trả cho xã. Bố bảo: "Chẳng biết người ta có lấy lại tiền tuất không nhỉ.". Đang phủi bụi, ông giận, bực mình ném phất trần xuống nền nhà rồi bỏ cả khung kính lẫn bằng vào túi, đi về trụ sở uỷ ban. Mẹ nước mắt lưng tròng.
Tháng ba lại về.
Hoa gạo nở rắc đầy lối xuống sông. Ông độ này yếu, thỉnh thoảng ho khúc khác. Bờ bên kia ngốn ngang cọc xi măng, sắt thép. Bố bảo: "Nay mai có cây cầu mới hết cảnh đò giang cách trở". Mai chợt buồn, nghĩ đến ngày ông gác chèo, lên bờ. Ông yếu nhiều, bước chậm rồi. Nghĩ dại, ông chết dì Mây ở với ai? Bố quát: "Ở kia mày nghĩ vẫn vơ cái gì thế. Cấm ra chỗ người ta làm. Lính công binh trúng thầu toàn những thằng lạ hoặc, mồm mép như tép nhấy. Lở xớ phải lòng nhau, ếch bụng ra bằng bôi tro trát trấu vào mặt tao". Bố nghĩ đen tối quá. Gặp ai bố cũng nghi ngờ, cảnh giác. Hôm Chỉ huy đến liên hệ cho bộ đội tập kết xây cầu, bố còn mặc cả: "Chú Quang này. Bến sông đây bom bị chưa nổ. Lúc rà bom tôi cho dân quân gác, đơn vị chủ phải nuôi cơm". Thấy ảnh dì Mây đội mũ tai bèo treo trên tường, chú Quang giật mình, nhìn trân trân như bắt gặp người thân. Bố bảo: "Em gái nhà tôi đấy. Người ta báo tử từ dạo chưa giải phóng". Chú Quang lặng người. Hai mắt chớp chớp. Như người mất hồn, chú ngẫn ngơ về..
Lính công binh làm cầu rà bom suốt ngày ngụp lặn ở bến sông Châu. Người nào cũng đen ngòm, khoẻ như vâm, nhưng trông hiền khô. Lũ bạn Mai đi học qua suốt ngày trêu chọc.. Ngồi trước trang sách, đầu óc Mai cứ để ở đâu đâu. Khó thế! Người nôn nao bứt rứt không yên.
Mẹ hốt hoảng chạy về nhà la lối: "Ối em ơi là em ơi ởi.. Em sống khôn thác thiêng..". Lo quá, Mai cứ nghĩ dì Mây.. Bố quát: "Cái gì? Nói đi nào.. cứ ông ống khóc". "Thím Ba.. Mình ra mà coi.. người ta bảo thím đun te vướng bom bi". Hoảng quá, Mai chạy theo bố ra bến sông. Chân cứ díu lại, trống ngực đánh thình thịch, tức thở. Người ta bọc vòng trong vòng ngoài. Bố đến, mọi người giãn ra. Dì Mây ngồi cạnh thím Ba, im phắc. Tóc dì xõa ra, mắt ráo hoảnh vô hồn như nhìn về cõi xa xăm. Thím Ba đã tắt thở. Bom bi nõ găm đầy người lô chỗ. Máu ở ngực thím vẫn còn rỉ ra. Dưới sông te lưới nổi lập lờ, lập lờ.
Đám ma thím Ba về, bố sọp hãn người. Ban đêm thơ thẩn trong vườn lại ra cầu ao ngồi. Sáng bố bảo dì Mây: "Tôi biết lúc sắp tắt thở, mẹ thằng Cún trăn trối để dì nuôi cháu. Tôi nghĩ chẳng biết có phải không. Dì cho nó về ở với tôi..". Dì Mây gạt đi: "Cứ để tôi nuôi cháu, sau sẽ liệu". Bố bảo: "Tôi ơn dì".
Cuối thu trời hơi se lạnh.
Giữa nền trời mờ đục, sếu từng đàn giăng giăng hình chữ V bay mải miết về phương Nam tránh rét. Trong làng thêm nhiều người đan áo. Ông mặc ẩm môi lần xuống bến. Lính công binh bắc thêm một nhịp cầu. Họ kháo nhau thủ trưởng tán dì Mây không đổ. Ở bờ bên này họ bảo: "Dì Mây chân cửa hàm che chở cho thương binh. Bom nổ người lĩnh công binh sốt rét tóc rụng trọc đầu vẫn lành lặn, còn cô y sĩ Trường Sơn mảnh đạn phạt một chân.". Bên kia bờ sông họ bảo: "Chú Quang sốt rét vẫn còn hành hạ, lấy vợ chắc gì đã có con." Lính đúc móng giữa dòng lại nói: "Chú Quang đi suốt dọc sông Châu tìm cô y sĩ Trường Sơn đã cứu mình thoát nạn". Dân xóm trại thì đồn: Dì Mây sắp lấy chồng. Còn bên bến sông Châu là ngôi nhà tình nghĩa dựng ngay trên nền căn lều cũ, dì Mây thở dài: "Ngày ấy, ở Trường Sơn có hẹn ước gì đâu. Bây giờ người ta đã là kỹ sư. Còn mình.. liệu có nên không." Rồi dì lại vỗ về ầu ơ ru thăng Cún ngủ.
Chuyện tình của thủ trưởng, chẳng biết có thật không, lính tráng truyền nhau dệt nên như huyền thoại. Nhưng có một sự thật chẳng hề nói quá: Đêm nào văng tiếng ru vọng ra từ căn nhà mới xây bên bến sông Châu là những người lính công binh thao thức hoài, khó ngủ..
Đêm sông Châu.
Đất trời như giao hòa một màu bàng bạc. Muôn triệu vì sao chi chít, nhấp nháy, rắc đầy xuống bến sông. Làng quê lam lũ, mệt mỏi chìm vào giấc ngủ. Mùi hương có mật lẫn vào mùi hương nồng nàn của đất phù sa dậy lên. Sông Châu thao thức. Sóng vỗ về, rì rầm bài ca ngàn xưa của đất trời. Văng văng trong đêm tiếng dì Mây ru thằng Cún ngủ. Giọng ầu ơ từ bến sông Châu lan xa, vang vọng. Lính công binh bắc cầu chợt dừng tay hàn, lăng nghe. Tiếng ru lúc đầu trầm lăng, nghèn nghẹn, xót xa sau êm ái, trong sáng, mênh mang, ngân nga sâu lắng tận sâu thăm con tim những người lính. Tiếng ru lần vào hơi thở sông nước trong đêm, hòa vào hương thơm của cây cỏ, đất trời.