Tác giả: Sương Nguyệt Minh
Ngày dì Mây khoác ba lô về làng, chú San đi lấy vợ.
Hôm ấy, nước sông Châu đỏ quạch. Sóng lớp lớp đập tung vào mố cầu đổ đứng trơ trọi giữa dòng nước từ thời bom Mỹ thả. Hoàng hôn màu đỏ ối. Mây đen, trắng lẫn lộn bay cuồn cuộn. Nước sông Châu mỗi lúc một lên cao, chảy xiết. Đám rước dâu ngồi trên đò bảo nhau: Lũ mạn ngược đổ về..
Chú San lấy cô Thanh giáo viên ở xóm Bãi bên kia sông. Đám rước đông,Mai phải phụ với ông chèo đò chở mấy chuyến mới hết. Chú San đi học nghề ở nước ngoài về mấy tháng nay, chưa xin được việc. Chú mặc áo sơ vin, thắt ca ra vát đứng ngay ở mũi đò. Các cô mặc áo cổ lá sen; các bà, các ông mặc áo nâu sồng ngồi ở khoang đò, miệng nhai trầu bỏm bẻm. Mặt chú San tươi, rạng rỡ,lúc nào cũng cười cười, răng trắng lấp lóa. Cứ nhớ đến dì Mây là Mai muốn đánh đắm đò. Nghĩ ác! Nhưng quả thật lòng Mai cứ bồn chồn, bứt rứt nóng như lửa đốt. Mai vênh vênh cái mặt bảo chú San: "Đám cưới chú đông lẽ ra phải đi thuyền rồng". Chú chau mày: "Chú xin cháu. Đừng nói. Ông buồn". Mai lặng người nhìn ông đứng trên sạp thuyền chậm rãi, dứt khoát quẫy từng nhịp chèo. Ông lầm lì, mặt ngẩng cao, chòm râu bạc trắng phau bay bay. Ông đang làm cái việc chưa từng có trên đời là chở người yêu cũ của con gái mình đi lấy vợ. Mặt ông không để lộ niềm vui hay nỗi buồn. Nhưng nhìn vào mắt ông lại cảm thấy cồn cào như có sóng. Chỉ đến khi người cuối cùng của đám rước lên bến, ông mới vội lén lấy tay áo quệt nước mắt. Ông bỏ lên lều cỏ nằm. Mai neo đò vào bến.
Đám rước dâu qua sông một lúc thì dì Mây về. Dì đeo chiếc ba lô bạc mầutoòng teng ở một bên vai. Dì đứng ở bờ đê xóm Bãi gọi ông. Giọng dì nghèn nghẹn lẫn trong ráng chiều lúc hiện lên rất rõ, lúc nhoè đi. Ông đứng ở cửa lều cỏ dỏng tai nghe. Trong tiếng gió và sóng, Mai cảm nhận tiếng vọng của một thời xa lắc. Và loáng thoáng cả tiếng bọn trẻ chăn trâu: "Cô.. ô.. ơi. Lỡ đò rồi".
Mai cứ ngỡ mình trong mơ. Khi bừng tỉnh, Mai đã thấy ông chèo đò ra giữadòng sông. Dì Mây bước tập tễnh, tập tễnh xuống bến. Ông quẫy chèo gấp gáp.Mắt ông nhoè đi. Đò kịch bến. Dì Mây nhào xuống đò. Đò ngang tròng trành, tròng trành. Ông ôm lấy dì. Đôi vai rung lên. Ông nói từng hơi đứt quãng: “Mây ơi! Sao đến hôm nay mới về.. chậm mất rồi! Con ơi!.. Cha cứ tưởng..”
Mai đứng lặng, nước mắt lăn dài. Chèo buông, đò ngang trôi theo dòng xuôi về phía hạ nguồn. Ông và dì, một già một trẻ, một lành lặn, một thương tật tựa đỡ vào nhau. Bóng dì và ông in trên mặt sông lần trong bóng chiều cháy đỏ. Giật mình, Mai chạy dọc triền sông, thảng thốt gọi ông, gọi dì.
Chập tối.
Gió ở bến sông Châu thối quần quặn. Chuối sau túp lều có tàu lá rung lật bật. Nước sông Châu chảy xa xá, vài con két đi ăn về muộn thình thoảng kêu lạc loài giữa không trung. Mai rốn lại neo chặt đò. Ông đi trước, di Mây thập thênh theo sau về xóm Trại. Đóng xong cửa túp lều ở bến sông, Mai vội tắt qua đám mạ về nhà. Ba đứa em gái lạ dì, trố mắt đứng nhìn. Ông gỡ tấm ảnh dì Mây viền đen trong khung kính và bằng Tổ quốc ghi công cất vào tủ. Dì Mây đứng trước bàn thờ chịu tang bà. Dì gục đầu cạnh bát hương, nức nở: "Ối u ơi! Là u ơi! Ngày con đi u báo cầu mong cho bom đạn tránh người. Lúc đi chín, lúc về mười, lấy chồng cho u bế cháu..".
Ông thấp ba nén nhang đặt vào tay dì Mây. Ông cũng đứng bên dì, lẩm bẩm như nói với người cõi âm. Mai thần thờ bỏ ra ngoài đứng bên hàng dâm bụt leo đầy dây tơ hồng. Không muốn nhìn nhưng chữ song hỷ cắt bằng giấy bạc trên phông cưới chú San cứ đập vào mắt. Bố đi họp về há hốc miệng ngỡ ngàng cứ như bất chợt gặp dì Mây ở chợ âm phủ. Mẹ đi thăm bà đẻ cũng đã về. Đến sân, mẹ ngơ ngác đứng ngây như trời trồng rồi lắp bắp: "Chị lậy em.. Em sống khôn chết thiêng.. Ông và chị thở, cúng em đúng ngày đúng tháng.. Nhà đang làm ăn yên ổn đừng hiện về ám các châu..". Dì Mây đứng dậy. Đèn trên ban thờ chập chờn, khói hương quyện quanh người dì. "Chị ơi!". Chỉ có vậy dì lặng đi. "Em đây.. Mây đây.. chị ơi!". Lúc này thì mẹ bừng tỉnh. Dì Mây nhào đến, hai chị em ôm ghì lấy nhau. Mẹ sờ sờ nắn nắn khắp người dì, chạm phải chân cụt, mẹ nấc lên, rồi sụt sùi. Dì Mây cũng lau nước mắt. Mẹ bảo: "Chị khóc dì khô nước mắt. Ở hiền gặp lành, phúc ông bà ông vải to lắm mới có ngày hôm nay. Mà khiếp! Dì ngồi như tượng, khói hương phủ lên đầu lên vai, chị cứ tưởng..". Bố bảo: "Thôi! Thôi! Vừa mới về đề cho dì ấy nghỉ". Dì Mây ngồi xuống hiên, chốc chốc lại nhìn sang bên kia hàng dâm bụt. Bên chú San, cô cưới vẫn chưa tàn. Người ra, vào tấp nập, cười nói, chúc tụng vang một góc làng. Cô Thanh mặc quần láng Nam Định, áo pôpơlin trắng lóa đi từng bàn tiếp thức ăn. Ông Quảng được dâu hiền, nét mặt sung mãn. Ông tất bật: "Thằng Lâm đâu?". "Dạ, dạ". "Mâm cụ trưởng hết rượu". Lại tiếng dạ ngoãn ngoặt, rồi tiếng chân chạy cỗ rộn rịch. Cụ trưởng lè nhè, chỉ vào cô Thanh: "Cháu.. cháu.. chuột sa chĩnh gạo nhá. Cái Mây không báo tử.. thì cháu đếch được làm dâu cái nhà này.. Có mà đẻ một thằng cu.." Thím Ba toang toác át cả tiếng nhạc thoát ra từ cái đài catset cũ: "Cụ ơi! Cụ chếnh choáng rồi. Rượu vào lời ra. Cụ nói lúc này không tiện đâu. Danh giá cô Thanh chẳng kém gì cậu San nhà ta. To mông, rộng háng, lưng hơi gù thế kia, cứ sòn sòn năm một..". Đám cô cười ồ lên. Cụ Trưởng đặt mạnh chén mắt trâu xuống mâm, rượu sóng sánh tràn ra: "Con mẹ kia.. cười gi.. Mày dạy ông phỏng. Láo! Về mà dạy thằng con hoang nhà mày nhá!..". Ông Quảng chạy lại chắp tay vái lia lịa: "Tôi xin ông.. Ngày vui của các cháu..". "Nhưng mà nó láo..". "Vâng. Cháu nó biết lỗi rồi, có nói năng nữa đâu. Thăng Lâm đâu mở nhạc to lên". Tiếng máy cọt kẹt, nhạc ầm lên. Thím Ba đã lui ra góc sân từ lúc nào ngồi thút thít. Khổ thân thím. Chú hy sinh ba năm, thím đẻ em bé. Hỏi bố thằng Cún là ai. Thím giấu không nói. Cuối cùng kỷ luật, một mình gánh chịu. Nghe đâu định cất cả tiêu chuẩn vợ liệt sĩ.
Bên nhà ông, hàng xóm vẫn chưa biết dì Mây về. Cả nhà nói chuyện chủng chăng. Ông hỏi bâng quơ những chuyện xưa xa lắc. Bố an ủi dì Mây cao số. Chuyện trò chẳng biết vui hay buồn. Mẹ đụng phải cái gì cũng rơi, cũng vỡ. Tim Mai đập thon thót. Thỉnh thoảng bố hỏi, dì Mây miễn cưỡng trả lời, bụng dạ cứ để ở bên nhà chú San. Dì linh cảm điều bất hạnh đã xảy ra. Trớ trêu quá! Sự thật phũ phàng đã dập tắt niềm vui và khát vọng của dì. Dì Mây bẽ bàng, cô đơn. Dì hận. Di tủi. Lặn lội khắp nẻo đường Trường Sơn, dì mong mỏi ngày gặp lại. Thế mà người ta có biết dì về đâu. Người ta đang sung sướng, hạnh phúc kìa. Lại còn cười nữa trời ơi. Dì Mây nhắm mắt lại trốn tránh ánh đèn măng sông đám cưới. Đó là thứ ánh sáng hạnh phúc của người tình xưa chiếu vào tận sâu thẳm lòng dì. Nó như muôn vàn mũi kim nhọn châm, chích vào trái tim dì đang rỉ máu.. Dì mở mắt. Xót xa nhìn cái chân cụt đến đầu gối và tấm thân còm nhom, xanh lướt..
"Khốn nạn cái thân em tôi". Mẹ chỉ sang nhà chú San: "Kia kia! Người ta đang nắm tay nhau chướng mắt lắm. Dì chịu ngồi thế này à?". Bố bảo: "Chả lẽ đứng giữa sân mà hô hồng. Trước lúc đi lấy vợ người ta cũng sang thưa chuyện tử tế". Chỉ chờ có thể mẹ lu loa: "Giời ơi. Là giời! Người ta sung sướng để em tôi khốn khó, khốn nạn thế này..". Ông nghiến răng hàm hữ: "Bớt bớt cải mồm cho tôi nhờ. Vác được cái xác về là mừng. Còn mong gì hơn nữa. Phải biết thân phận mình chớ!".
Bên nhà chú San có tiếng quát tắt nhạc. Thím Ba hồn hến đến ghé sát tai chủ San thì thầm. Hình như chưa hết câu chủ đã ngồi phịch xuống ghế ôm dầu. Tiếng ồn ào lăng lại chỉ còn tiếng thu dọn bát đĩa kêu lách cách.
Một lát sau, chú San rẻ hàng dâm bụt, bố sang. Người chủ quân đầy dây tơ hông. Bố ngồi bó gối quay mặt đi nơi khác. Mẹ ngại ngùng chào đãi bôi. Ông tra thuốc vào nô điều rít liên tục. Chủ San nhận lỗi, xin phép được nói chuyện với di. Dì Mây nuốt nước mắt vào trong: "Giờ không còn gì để nói nữa. Anh về đi!". Dì chống nạng gỗ lộc cộc bỏ ra ngoài ngô. Chú San dứng phắt dậy đi theo: "Cho anh nói một câu". "Không!" "Anh chỉ xin nói một câu thôi". Dì Mây thở hồn hến, tay vin cành dựa hẳn vào cây bưởi. "Anh có lỗi. Anh tệ quá. Mây cứ chửi mắng anh đi". Chú San nắm hai tay đập liên hồi vào thân cây. Lá bưởi xào xạc. Vài con chim giật mình bay vút lên không trung. Dì Mây tức tưởi: "Hôm nay là ngày gì? Anh nhớ không. Có ngờ đâu ngày ấy tiên anh đi cùng là ngày lì biệt".
Họ lặng im, không ai nói gì nữa. Trong mắt hai người không phải màn đêm dưới tán lá bưởi thoang thoảng mùi hương thuần khiết mà là bến sông. Bến sông Châu năm ấy giữa mùa hoa gạo cháy. Từng cánh, từng cánh hoa đỏ tươi rắc đây lối xuống đò. Phía ga Gềnh xa xa ì ùng tiếng bom Mỹ thả. Đạn cao xạ lụp bụp nó. Từng đám khói tròn đen trăng lẫn vẫn trên nền trời xanh ngắt. Nhịp cầu bị bom đánh sập trơ ở bến sông. Người con gái chèo đò đưa người con trai đi nước ngoài học. Đỏ ngang bồng bềnh, bồng bênh. Bồng máy bay rẹt qua dầu. Người con gái bỏ chèo ôm chặt, nép đầu vào ngực người yêu. Con đò cứ trôi đi chở hai người lặng im ôm nhau như không hề có chiến tranh, không có cuộc chia ly.
Mai ra múc nước, gầu va vào thành giếng. Hai người bừng tỉnh. Giọng chú San bồi hồi: "Ở nước ngoài, đêm nào anh cũng nhớ đến em, nhớ bến sông Châu". Tiếng di Mây da diết: "Ngày ở Trường Sơn, trang nhật ký nào cũng có tên anh". Hồi ức trở về những ngày xa nhau. Một thời đã qua ở hai khung trời xa cách lại hiện lên. Người con gái ở Trường Sơn đạn nổ bom rơi, người con trai ở xứ bạn đây hoa tuyết trắng rơi rơi, êm ả, thanh bình.. Tình yêu, nỗi nhớ như kéo không gian, thời gian gần lại. Trong lòng họ tình yêu, tỉnh thương lại bùng lên bất chợt, cồn cào, da diết. Chú San đột nhiên vung tay đầm rung cành bưởi: "Mây! Chúng ta sẽ làm lại". "San! Anh nói gì thế?". "Anh sẽ từ bỏ tất cả, Chúng ta về sống với nhau". Dì Mây lặng đi, người rù ra, mềm oặt. Di từ từ khuỵu xuống. Chú San sẽ sàng đỡ dì ngồi xuống đống củi xếp cạnh gốc cây bưởi.
Bên kia hàng dâm bụt cô Thanh đi đi lại lại. Chốc chốc cô lại dứt lá dâm bụt xoàn xoạt. Dây tơ hồng quấn quýt ở tay cô. Trong buồng hạnh phúc, giường cưới bỏ ngỏ, mân trắng thấp thoáng qua cửa số. "Chết thật!". Mai buột miệng thốt lên. Tình thế này chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra. Trên đầu không thấy gió thối, mây bay. Và cây trong vườn đứng im phăng phắc. Không khí ngột ngạt nghẹt thở. Đó đây im ắng hãi hùng như đang dồn nén cho một trận cuồng phong bào tổ sắp cuộn lên ở bến sông Châu.
"Không!". Tiếng dì Mây phá vỡ khoảng không gian im lặng. Di bật dậy, chống nạng gỗ cộc cộc đi vào sân. Chú San chạy theo níu áo dì Mây. Dì đứng lại, thở hồn hến: "Thôi! Thôi! Lỡ rồi! Đằng nào cũng chỉ một người dân bà khổ. Anh về đi". Chú San ngập ngừng định nói điều gì. Dì Mây ngăn lại: "Anh đừng lo cho tôi". Dì thở dài đánh thượt: "Sự thế đã thế, cố mà sống với nhau cho vuông tròn". Cô Thanh đứng bên kia hàng dâm bụt mếu máo nói với sang: "Chị ơi! Chúng em ơn chị". Không đáp lại, dì Mây quay ngoắt lưng, chẳng biết mặt cô Thanh lúc ấy tròn hay méo. Dì ném xoạch đôi nạng gỗ xuống sân, ôm mặt khóc hu hu. Dì khóc như chưa bao giờ được khóc. Bao oan khúc tức tưới dồn nén chặt vỡ òa ra. Mẹ thút thít dịu di Mây vào trong nhà. Dì nằm úp mặt vào tường thổn thức.
Đêm dài quá.
Chuột trên mái nhà đuổi nhau kêu chí choé. Có tiếng ken két như thân tre vặn mình sát vào nhau. Lại có tiếng cọt kẹt như tiếng dát giường kêu vọng trong đêm sâu vắng. Thở dài. Chốc chốc lại thở dài, dì Mây dựa lưng vào vách, một chân còn lại bó gối. Dì ngồi rất lâu trước ngọn đèn dầu tù mù. Con búp bê tóc vàng trong túi cóc ba lô chưa kịp cho lũ trẻ lòi ra. Dì Mây ngắm nghía. Dì ôm chặt nó vào lòng, đu đưa, nâng niu. Chán! Dì lại lôi quyền nhật ký lật từng trang, trang nào cũng có tên chú San. Dì úp quyển nhật ký vào mặt. Nước mắt nhoè lên các dòng chữ trên giấy đã ố vàng. Cuối cùng, dì khập khểnh xuống bếp. Bật diêm, dì ngồi chậm rãi xé từng trang, từng trang ném vào lửa. Mặt di lạnh tanh vô hồn. Dì ngồi như tượng. Lửa cháy xanh, leo lét, chập chờn in hình dì lên vách bếp. Lúc sau, dì giật mình, hoảng hốt dập lửa. Quyến nhật ký xé tung, đã đốt cháy một nửa.